Trong thời đại ngày
nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi
trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những
yếu tố gây Stress đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn
tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch
và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là
một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải
tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí,
nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.
Nguồn gốc của Thiền
Từ Thiền của Việt nam
hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ "Ch’an" của Trung hoa. Những
chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư
(Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng
cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật
ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng,
lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự
vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những
tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được
Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma
nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của
Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn
phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của
Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần
lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các
nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu
thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền
được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức… Vào giai đoạn này, sau những cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời
sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại
thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt
khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền
đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục
đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa
thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là
phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh
phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã
đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể
các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh
tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta
đã dùng từ "Meditation" để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn
“Mederi" với từ "Medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.
Thiền là liệu pháp đối
trị của những chứng bệnh tâm thể
Đối với y học phương
Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh chỉ được Cullen nói đến
vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm
1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống Stress ở Montreal, Canada
đã chính thức dùng thuật ngữ Stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những
yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây,
trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, lại là những người có khuynh hướng
duy tâm, thường hướng nội và phản quán, các nhà y gia cổ đại của phương Đông đã
sớm nhận ra ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người.
Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh đã ghi nhận "bách bệnh giai sinh vu
khí". Người xưa cho rằng những cảm xúc thái quá sẽ làm rối loạn khí hóa của
những tạng phủ tương ứng và qua mối quan hệ sinh khắc sẽ dẫn đến sự mất quân
bình của cả hệ thống. Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những
bệnh về nội thương. Ví dụ những người quá suy tư căng thẳng thường ăn uống kém
ngon, dễ rối loạn tiêu hóa. Điều này xảy ra vì sự suy tư quá độ làm ảnh hưởng đến
khí hóa của tỳ vị vì "Tư thương Tỳ". Hơn nữa, sự căng thẳng lâu ngày
làm Can khí uất kết có thể dẫn đến loét dạ dày, tá tràng, triệu chứng mà Đông y
thường gọi là "Can phạm Vị". Đôi khi những rối loạn khí hoá do cảm
xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh lý có thể thấy được ngay. Thử quan sát
một người đang bộc phát cơn tức giận. Toàn thân nóng lên, mồ hôi vả ra, nhịp
tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như căng lên. Ở một số người khác cơn nóng giận
có thể làm cho toàn thân ngứa ngáy, đau thắt ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao
tử. Đó là một trường hợp điển hình về rối loạn khí hóa do cảm xúc. Trong trường
hợp nêu trên, Đông y cho rằng “Nộ thương Can", sự tức giận đã làm cho Can
khí nghịch hành, dẫn đến các triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh, thuộc Dương chứng.
Trên thực tế, nếu bản thân không có các bệnh thực thể gì khác, chúng ta chỉ cần
thực hành thư giản để sơ tiết Can khí hoặc chú tâm quan sát hơi thở vào và ra để
đạt đến tâm bình, khí hoà hoặc chuyển tâm nghĩ đến một sự kiện vui vẻ đã xảy ra
trong đời để khí của mẹ là Can Mộc được tiết bớt sang cho con là Tâm Hỏa (sự
vui vẻ thuộc Tâm Hỏa và Mộc sinh Hỏa) thì các triệu chứng trên sẽ tự biến mất.
Đó là ví dụ về những cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ bản thân.
Trong thời đại ngày
nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi
trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những
yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn
tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ
thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm
tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc
phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng
vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi
người. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã
vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá
trình luyện tập hoặc điều trị. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu
pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư đại học
Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind-Body Medical Institute) cho biết
"từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên
quan đến Stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật
nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể". Ông cho rằng
các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình
trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa
các nội tiết tố Stress.
Hiện nay có một
phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại
nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass,
Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt
của thuật ngữ "Mindfulness Based Stress Reduction", tạm dịch là
"giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác". MBSR được xem là một liệu pháp bổ
sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ
thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì
đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa
cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm
sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM
(the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại
học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở
Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR
tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp
mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng
thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực
hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được
hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR
giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức
năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,…
Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều
trị bằng MBSR.
Thiền là một liệu
pháp chỉnh thể
Thiền là một truyền
thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy
đủ tính chất “chỉnh thể" và "Trời người hợp nhất" của nền y học
cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một
tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều
chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng
thể. Chẳng hạn, ở một bệnh nhân loét dạ dày, liệu pháp chỉnh thể sẽ lưu ý giải
quyết tình trạng thấp nhiệt ở dạ dày hoặc căng thẳng tâm lý trong sinh hoạt để
cải thiện khí hoá ở Tỳ vị hơn là cố tìm một loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn
gây loét. Ở những chứng viêm mũi mãn tính, Đông y cho rằng do Âm hư gây ra Hỏa
vượng. Do đó cách chữa phải đặt nặng việc bổ thận để nạp khí, bổ Âm phải tàng
Dương, hơn là chỉ dùng những chất hàn lạnh để trừ hư Hỏa. Dù hư Hỏa có tạm được
khống chế nhưng nếu làm trầm trọng thêm sự mất quân bình Âm Dương hoặc suy sụp
thêm sức đề kháng thì bệnh không thể dứt được… Nói chung, theo quan điểm này
thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức
khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải
thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu
chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý
nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và
tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp
chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của
phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm
có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để
hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác. Về mặt thần kinh, thông qua
quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não,
có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện
vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể
vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt
động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức
khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu
quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải
thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.
Nói chung trong quá
trình hành Thiền, "thần tĩnh tức âm sinh", tâm không duyên ra ngoài sẽ
giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công
năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với
tinh thần "nhiếp sinh" của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường
sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những
điều kiện thay đổi của môi trường sống.
Liệu pháp Thiền và những
suy nghĩ tích cực
Khi xem một vở kịch tốt
hoặc một phim hay, trong những lúc cao trào, ta thường bị thu hút vào vở diễn
hoặc vai diễn. Thương cảm, rơi lệ hoặc bức xúc, tức giận,… Trong những phút
giây đó, không chỉ người diễn viên mà cả người xem đều đã như hóa thân thành một
người khác chứ không còn là người diễn viên hoặc bản thân chúng ta của những
lúc bình thường. Những truyền thống tư tưởng phương Đông đều quan niệm thân và
tâm là một thể thống nhất. Suy nghĩ và cảm xúc luôn tác động đến phần thể xác.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn cả nhận thức và từ nhận thức sẽ
dẫn đến hành động. Chính những cảm xúc và nhận thức lâu ngày đã hình thành nên
tập tính và tình trạng sức khỏe ở mỗi người. Do đó có thể nói mỗi người chính
là những điều mà người đó suy nghĩ. Mỗi người trong chúng ta vì những lý do
khác nhau đã vô tình bị tập nhiễm một số hành vi mà chúng ta không muốn nhưng
đã không thể cưỡng lại được. Kỹ thuật tự ám thị (auto-suggestion) thông qua thiền
định có thể giúp cải thiện tình trạng này. I.P. Paplov một nhà sinh lý học nổi
tiếng của nước Nga đã chứng minh rằng mọi phản xạ thần kinh dù cao hay thấp, mọi
thói quen, quá trình rèn luyện, học tập, lao động đều là những quá trình hình
thành nên những phản xạ. Trong hành Thiền, việc hóa thân, việc đồng nhất hóa với
một sự vật mới, một ý niệm mới hoặc một con người mới đã được tái hiện liên tục
và nhiều lần trong một điều kiện tâm lý đặc biệt. Điều kiện tâm lý đặc biệt
chính là tình trạng thư giãn hoặc nhập tĩnh khi mà não trở nên nhạy cảm khác
thường trong việc tiếp nhận và hoạt hóa những thông tin liên quan, đến những ý
niệm hoặc hình ảnh được gợi ra. Nói cách khác, khi ở vào tình trạng thư giãn ta
có thể dùng lời nói hoặc những hình ảnh tưởng tượng thích hợp để cải thiện những
tình trạng tâm lý hoặc vật lý của cơ thể, những điều mà trong điều kiện bình
thường ta không thể thực hiện được. Hiệu ứng này thường được vận dụng trong các
phương pháp dưỡng sinh, khí công, thôi miên, tự ám thị và cả trong nhiều nghi
thức tôn giáo. Ví dụ, bình thường ta không thể ra lệnh hoặc tự nhủ để nhịp tim
chậm lại hoặc huyết áp giảm xuống. Tuy nhiên, trong điều kiện thư giãn hoặc lúc
thiu thiu ngủ nếu ta "thấy" hoặc "nghĩ" rằng tim đang đập
chậm lại hoặc huyết áp đang hạ xuống thì tần số tim sẽ giảm và huyết áp sẽ hạ.
Hãy lưu ý từ "thấy" mà không phải là "nhìn". Từ "thấy"
hoặc "nghĩ" ở đây hàm nghĩa không có sự phân tích hoặc cố gắng về mặt
ý thức. Đây là một nguyên tắc quan trọng của Thiền cũng như của sự tự ám thị.
Nguyên tắc này có thể được gọi một cách vắn tắt nhưng khá chính xác là sự tập
trung không căng thẳng. Tập trung vào một từ khóa, một câu ám thị, hoặc một cảnh
vật… nhưng phải ở trong điều kiện tĩnh lặng và không căng thẳng. Chính sự tĩnh
lặng và không căng thẳng giúp duy trì tình trạng nhập tĩnh đồng thời nâng cao
tính nhạy cảm trong việc tiếp nhận và hình thành nên những cung phản xạ mới. Về
mặt khoa học, nhập tĩnh ứng với tình trạng cơ bắp thư giãn hoàn toàn và sóng
não hạ thấp từ nhịp Beta nhanh và không ổn định xuống nhịp Alpha hoặc Theta chậm
và ổn định hơn. Trong điều kiện này bất kỳ sự căng thẳng nào kể cả sự căng thẳng
của quá trình chú ý (chẳng hạn phân tích, lý luận về vấn đề đang chú ý) đều sẽ
làm thay đổi sóng não và phá vỡ sự nhập tĩnh. Chính sự tự ám thị trong điều kiện
thư giãn hoặc gần nhập tĩnh giúp thúc đẩy nhanh quá trình hình thành nên những
cung phản xạ mới cho yêu cầu chữa bệnh hoặc cải thiện hành vi, nhân cách. Ở nhiều
bệnh nhân mắc những bệnh mãn tính đã trãi qua điều trị lâu dài, tính trầm trọng
không phải ở chính căn bệnh mà ở tâm lý chán nản, trầm uất. Tâm lý này phát xuất
từ suy nghĩ mình là gánh nặng của gia đình hoặc do thiếu niềm tin vào thầy, vào
thuốc. Yêu cầu điều trị trong những trường hợp này là phải giải tỏa được trầm uất
và tăng cường niềm tin sẽ khỏi bệnh. Đó là lý do tại sao thiền và những suy
nghĩ tích cực lại hữu hiệu trong hầu hết những bệnh kinh niên. Với liệu pháp
thiền, có thể nói người bệnh chính là thầy thuốc và sức miễn dịch được nâng lên
chính là thuốc chữa bệnh.
Sau đây là một vài
thí dụ về sự phối hợp giữa thư giãn & Thiền và những suy nghĩ tích cực.
Để đạt được mục đích
thư giãn và bình an cho tâm trí, người tập có thể nghĩ đến những cảnh quang mà
mình ưa thích hoặc đã từng trãi qua. Rừng thông bạt ngàn, gió thổi vi vu. Bãi
cát trắng xóa, sóng biển nhấp nhô. Cánh đồng lúa rì rào, gió thổi mơn man. Cảnh
núi non hùng vĩ, thác nước trắng xóa,… Nằm hoặc ngồi thoải mái ở một nơi yên
tĩnh, thoáng mát. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa, thì thở ra chậm và dài hơn
thì hít vào. Tập trung tư tưởng nghĩ đến cảnh quang đã định. Hình dung rõ ràng
quang cảnh như đang hiện ra trước mắt mình. Lặng lẽ quan sát để từ từ tiến đến
dung hợp giữa người và cảnh, thấy mình hòa tan vào cảnh hoặc quên đi bản thân
mình.
Để gia tăng nội khí
hoặc để điều trị các chứng hư Hỏa gây căng thẳng, nhức đầu, khó ngủ, hồi hợp,…
có thể tập trung vào bụng dưới. Ngồi bán già hoặc kiết già. Lưng thẳng. Eo hơi
thót lại. Cằm hơi thu vào. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Buông lỏng phần vai và
hai tay. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa. Tập trung tâm ý quán tưởng khắp chung
quanh mình đang có gió nhẹ thổi vào vùng bụng dưới.
Để chữa bệnh, trị đau
nhức, để làm tan một chỗ bị sung huyết hoặc một tổ chức bị u xơ, có thể quán
hơi thở vào và ra. Hít vào sâu đến bụng dưới. Thở ra chậm, nhẹ và đều. Trong
lúc thở ra tập trung ý quán một luồng trược khí màu xám từ chỗ bị đau theo hơi
thở thoát ra các đầu ngón chân (nếu ở vùng hạ thể) hoặc đỉnh đầu, hoặc những đầu
ngón tay (nếu ở vùng thượng thể). Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng vật lý của
những suy nghĩ tích cực. Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của Bác sĩ Carl
Simonton về điều trị ung thư. Ông hướng dẫn cho bệnh nhân thư giãn và hình dung
những bạch cầu của họ là những chiến sĩ "tìm và diệt". Đội quân dũng
mãnh đã chiến đấu, chiến thắng và mang đi các tế bào ung thư đã chết. Công
trình nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho kết quả 25%
hoàn toàn khỏi bệnh, 30% ung thư ngừng phát triển, và ở 10% khác khối u ung thư
bắt đầu nhỏ dần.
Ông Emile Coue
(1857-1926), một chuyên gia điều trị tâm lý người Pháp là người đã từng hướng dẫn
và điều trị cho hàng chục ngàn bệnh nhân bằng phương pháp ám thị và tự ám thị.
Đến với ông có thể là những người bị mất ngủ, hoảng loạn, nói lắp, nghiện thuốc,
béo phì, động kinh, suyển và cả những bệnh nhân tim mạch, tiểu đường, u xơ,
viêm khớp. Ông đã đề xuất một công thức ám thị đơn giản chung cho nhiều trường
hợp khác nhau, để điều chỉnh hành vi hoặc để thay đổi những điều kiện tâm lý, vật
lý cho việc cải tạo sức khỏe. Nguyên văn câu ám thị là "Tous les jours a
tous points de vue, je vais de mieux en mieux" đã được chuyển sang Anh ngữ
“Day by day, in every way, I am getting better and better", tạm dịch
"Mỗi ngày qua, tôi tốt đẹp hơn lên về mọi phương diện". Ông khuyên
người bệnh thực hành ám thị hai lần mỗi ngày. Mỗi lần tự nhẩm 20 lần câu ám thị
nêu trên. Cần làm một xâu chuỗi có 20 hạt để lần chuỗi tương ứng với 20 lần nhẩm
niệm. Việc lần chuỗi vừa bảo đảm đủ số cần niệm, vừa có tác dụng tạo thêm phản
xạ có điều kiện cho những lần sau. Thực hành lúc vừa thức dậy, sắp sữa xuống
giường và liền trước khi nằm xuống ngủ. Đây là những lúc mà chúng ta còn ngái
ngủ hoặc buồn ngủ. Do đó khi đã nhắm mắt và tập trung vào câu ám thị thì tâm chỉ
tồn tại có ý niệm đó, những tạp niệm rất khó xen vào. Về mặt thần kinh, những
thời điểm này gần giống như lúc chúng ta luyện tập thư giãn hoặc chuẩn bị nhập
tĩnh nên cũng là lúc tốt nhất để tiếp nhận những thông tin tích cực cho việc tạo
nên những cung phản xạ mới.
Lưu ý
Kết quả hành Thiền sẽ
khác nhau do khả năng tập trung tư tưởng của mỗi người. Điều này tùy thuộc vào
căn cơ và các điều kiện trợ duyên khác như chế độ ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp…
Thiền được xem là một liệu pháp bổ sung được dùng song hành với các biện pháp
chữa bệnh chính thống khác. Do đó việc gia giảm hoặc thay thế các loại thuốc
trong việc điều trị phối hợp với Thiền cần theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn các bạn đã gửi nhận xét