(Bệnh Tâm Thể) Stress là một đáp ứng của cơ thể trước một yêu cầu. Trong các điều kiện thông thường, stress là một đáp ứng thích nghi bình thường về mặt tâm lý, sinh học và tập tính.
Stress đặt chủ thể vào một mô hình dàn xếp với môi trường xung quanh.
Trong stress bình thường, sự đáp ứng là thích hợp và giúp cho cá thể có được những phản ứng đúng, nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài.
Trong stress bệnh lý, khả năng đáp ứng của cá thể tỏ ra không đầy đủ hay không thích hợp, không thể tạo ra ngay một cân bằng mới, vì vậy xuất hiện rối loạn chức năng, thể hiện qua các dấu hiệu tâm thần, cơ thể và tập tính tạm thời hay kéo dài.
1.Stress bình thường: Phản ứng thích nghi
Trong một tình huống stress bình thường, cá thể phản ứng lại qua hai giai đoạn: Giai đoạn báo động và Giai đoạn chống đỡ.
1.1.Giai đoạn báo động:
Trong giai đoạn này có một sự cảnh tỉnh cao độ của cơ thể, kích thích các quá trình tâm lý, đặc biệt là các quá trình tập trung, ghi nhớ và phán đoán. Đồng thời, cơ thể triển khai những phản ứng sinh lý biểu hiện như tăng huyết áp, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, tăng trương lực cơ bắp…
Những thay đổi về tâm lý và tập tính góp phần vào việc đánh giá tình huống stress và bước đầu đề ra chiến lược đáp ứng trước tình huống đó.
1.2.Giai đoạn chống đỡ:
Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng khác nhau trong khuôn khổ chiến lược đã được đề ra. Đây là quá trình triển khai các đáp ứng một cách thích hợp để cơ thể có khả năng thích nghi mềm dẻo, làm chủ được tình huống stress, thiết lập được cân bằng mới đối với chính bản thân chủ thể cũng như với môi trường xung quanh.
2.Stress bệnh lý:
Phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống gây stress là bất ngờ, quá dữ dội, hoặc tình huống quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt qúa khả năng dàn xếp của chủ thể, và chủ thể cảm thấy tràn ngập.
Tiếp theo giai đoạn báo động và chống đỡ là giai đoạn kiệt sức với khả năng thích nghi bị thất bại và xuất hiện stress bệnh lý. ( Như vậy, phản ứng với tình huống stress trải qua ba giai đoạn. Hai giai đoạn nêu ở trên: Giai đoạn báo động, Giai đoạn chống đỡ, và ở đây, giai đoạn ba: Giai đoạn kiệt sức, xảy ra ở người mà stress đã trở thành stress bệnh lý).
Trong stress bệnh lý, các rối loạn tâm thần, cơ thể và tập tính xuất hiện hoặc cấp diễn, tạm thời hoặc nhẹ hơn và kéo dài.
2.1.Stress bệnh lý cấp tính:
Thường gặp trong các tình huống không lường trước, dữ dội như bị tấn công, gặp thảm họa hoặc khi được biết chính mình hay người thân của mình bị bệnh nặng. Stress bệnh lý cấp tính thể hiện ở hai loại phản ứng như sau:
2.1.1.Các phản ứng cảm xúc cấp diễn, tức thì:
Trạng thái phản ứng này được đặc trưng bởi sự hưng phấn quá mức về mặt tâm thần và cơ thể, biểu hiện bằng:
-Tăng trương lực cơ, thể hiện nét mặt căng thẳng, những cử chỉ cứng nhắc, kèm theo cảm giác đau các bắp cơ do căng cứng.
-Thường xuyên có triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật (tự trị) như tim đập nhanh, cơn đau trước tim, cao huyết áp, khó thở, ngất xỉu, chóng mặt, ra mồ hôi, nhức đầu, đau nhức nhiều nơi, nhất là cơ bắp.
-Phản ứng giác quan quá mức, tăng cảm giác: khó chịu trước những tiếng động thông thường, khó chịu với ánh sáng.
-Tập trung chú ý kém. Tư duy bị nhiễu loạn do thường nhớ lại những tình huống stress. Tuy nhiên, trí nhớ các sự kiện vẫn còn sắc bén.
-Trạng thái dễ cáu gắt trên cơ sở cảm giác bất an có thể đưa đến những rối loạn hành vi như trạng thái kích động nhẹ, khó khăn trong quan hệ với xung quanh.
-Một trạng thái lo âu lan tỏa, kèm theo sự sợ hãi mơ hồ, đôi khi nổi lên hàng đầu trong bệnh cảnh lâm sàng.
Phản ứng stress cấp kéo dài trong vài phút đến vài giờ rồi mờ nhạt đi. Nếu có mặt người khác làm cho chủ thể yên tâm, khuây khỏa thì triệu chứng càng mau chóng mờ nhạt.
2.1.2.Các phản ứng cảm xúc cấp xảy ra chậm:
Thực ra chủ thể có thể chịu đựng, chống đỡ được với stress, nhưng tự cho rằng tình huống stress là nặng nề. Do vậy, chủ thể có trải qua giai đoạn chống đỡ, nhưng chỉ lập được một sự cân bằng không bền vững và chỉ kéo dài trong vài ngày hoặc vài giờ. Sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng cấp với những triệu chứng và tiến triển giống như phản ứng cấp diễn, tức thì. Điều này chứng tỏ chủ thể không còn khả năng dàn xếp được tình huống stress về mặt tâm lý nữa. Chủ thể bị suy sụp và mất bù một cách chậm chạp.
2.2.Stress bệnh lý kéo dài:
Những rối loạn kéo dài được hình thành do các tình huống stress như sau:
-Thường gặp nhất trong các tình huống stress quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại như những xung đột, thất vọng, không toại nguyện, những phiền nhiễu trong đời sống hàng ngày.
-Ít gặp hơn, trong các tình huống bất ngờ và dữ dội, gây ra một phản ứng cấp diễn ban đầu, nhưng sau đó không ổn định hoàn toàn mà chuyển sang stress bệnh lý kéo dài.
Dù có nguồn gốc nào, những biểu hiện của stress kéo dài cũng rất đa dạng và thay đổi tùy theo đặc tính tâm lý, cơ thể và tập tính của chủ thể:
2.2.1.Các biểu hiện về tâm lý, tâm thần:
-Triệu chứng nổi trội nhất là phản ứng quá mức với hoàn cảnh xung quanh. Kèm theo là tính dễ cáu gắt, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lý, mệt mỏi về trí tuệ, không thể thư giãn được.
-Người bệnh thường rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, hay thức giấc và cảm thấy không có sự hồi phục sau giấc ngủ.
-Một sự chờ đợi trên nền tảng bi quan, tập trung vào tình huống stress. Có một sự cảnh tỉnh quá độ, đặt người bệnh vào tình trạng nghe ngóng thường xuyên làm căng thẳng nội tâm và gây tính dễ cáu gắt.
-Có những biểu hiện lo âu, ám ảnh sợ. Trên nền tảng một lo âu dai dẳng, xuất hiện cơn lo lắng ở những nơi có tình huống stress, hoặc nhớ lại tình huống stress. Những khó khăn cao độ khi phải đương đầu với tình huống stress thường đưa đến ám ảnh sợ.
2.2.2.Các biểu hiện về cơ thể:
Thường gặp là các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật mức độ vừa. Triệu chứng tăng lên khi hồi tưởng các tình huống stress hoặc phải đối mặt với tình huống đó. Những triệu chứng thể hiện qua những than phiền về cơ thể:
-Thường than phiền nhiều nhất về một trạng thái suy nhược kéo dài.
-Căng thẳng cơ bắp, chuột rút (vọp bẻ).
-Chứng run chân tay.
-Đổ mồ hôi.
-Nhức đầu kiểu căng thẳng. Đau nửa đầu kéo dài.
-Đau cột sống.
-Đánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp, “rối loạn thần kinh tim”.
-Bệnh đại tràng chức năng.
-Đau bàng quang.
2.2.3.Các biểu hiện về hành vi, thói quen:
Những biểu hiện rối loạn hành vi như ức chế hoặc hưng phấn, xung động. Những rối loạn hành vi này được tạo ra từ thái độ rút lui, né tránh xã hội hoặc ngược lại, dễ cáu gắt, xung động, mất kiềm chế. Những rối loạn hành vi này đưa đến khó khăn trong giao tiếp ở gia đình hay môi trường làm việc.
Những rối loạn hành vi thường là nguồn gốc của tệ lạm dụng rượu hoặc các loại thuốc nhằm mục đích làm dịu đi những căng thẳng lo âu. Có đặc điểm là lúc đầu rượu làm giảm lo âu căng thẳng, nhưng sau đó chính rượu lại là chất gây lo âu khiến chủ thể phải tăng lượng dùng rượu. Đó là vòng xoắn đáng sợ của nghiện rượu, dẫn đến thay đổi nhân cách, ảnh hưởng tai hại đến các mối quan hệ xã hội.
2.3.Trạng thái trầm cảm:
Những tình huống stress dai dẳng dẫn đến rối loạn lo âu kéo dài, gây trở ngại cho hoạt động của bệnh nhân. Những hoàn cảnh xung đột, sự không thỏa mãn liên quan đến stress, khiến bệnh nhân nghĩ rằng bản thân họ không thể nào tiến triển tốt lên được. Họ tự đánh giá thấp bản thân mình và đó là mở đầu cho các nhân tố trầm cảm. Các nhân tố trầm cảm này phát triển thành hội chứng trầm cảm.
2.4.Rối loạn stress sau sang chấn:
Rối loạn stress sau sang chấn (Posttraumatic Stress Disorder – PTSD) phát sinh như một đáp ứng trì hoãn hoặc kéo dài đối với một sự kiện hoặc hoàn cảnh gây stress mạnh, có tính đe dọa, thảm họa đặc biệt.
Những sự kiện đó như tai họa do thiên nhiên, con người gây ra, chiến tranh, tai nạn thảm khốc, nạn nhân của tra tấn, khủng bố, hãm hiếp hoặc các tội ác khác.
Những nhóm triệu chứng điển hình bao gồm:
+ Phản ứng giật mình, tự phát hay hay do một tiếng động bất kỳ gây ra.
+Hội chứng lặp lại: Tái diễn những giai đoạn sống lại sang chấn bằng cách nhớ bắt buộc, hoặc các giấc mơ, ác mộng.
+Hội chứng trì trệ: Cảm xúc tê cóng, cùn mòn, tách khỏi những người khác, không đáp ứng với môi trường xung quanh, mất thích thú.
+Né tránh các hoạt động và các hoàn cảnh gợi lại sang chấn.
+Có thể có những cơn sợ hãi cấp, bi đát, cơn hoảng sợ hoặc tấn công do những kích thích làm đột ngột nhớ lại hoặc diễn lại sang chấn hay phản ứng ban đầu đối với sang chấn.
+Thường có kèm theo rối loạn thần kinh thực vật, tăng cảm giác, mất ngủ kết hợp lo âu, trầm cảm. Có thể gây biến chứng lạm dụng rượu, ma túy và tự sát.
2.5.Rối loạn sự thích ứng:
Rối loạn sự thích ứng là những trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn cảm xúc gây trở ngại cho hoạt động xã hội và hiệu xuất công tác. Tác nhân gây stress có thể ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của các mối quan hệ của cá nhân như tang tóc hay chia ly. Tố bẩm cá nhân hoặc tính dễ tổn thương đóng vai trò to lớn trong nguy cơ của rối loạn thích ứng.
Rối loạn thích ứng thường xảy ra trong vòng một tháng sau khi xảy ra sự kiện stress và thường kéo dài không quá 6 tháng. Các triệu chứng gồm:
+Khí sắc trầm,lo âu, phiền muộn hoặc là hỗn hợp các cảm xúc đó.
+Cảm thấy không có khả năng đối phó với hoàn cảnh.
+Giảm sút hiệu xuất công tác và thói quen hàng ngày.
+Đôi khi tự thấy mình lâm vào tình trạng bi đát.
+Rối loạn hành vi với những cơn bùng nổ thô bạo, công kích hoặc chống đối xã hội. Triệu chứng này thường hay gặp ở tuổi thanh thiếu niên.
+Đặc biệt ở trẻ em thường có hiện tượng thoái triển như đái dầm, ỉa đùn, nói lắp, mút ngón tay…
PGS.TS Nguyễn Văn Thọ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn các bạn đã gửi nhận xét